Cô bạn đồng nghiệp dạo này hay than thở. Gần như suốt từ tết tới giờ, cô chẳng làm được gì cho mình cả. Lấn bấn với 2 đứa con nhỏ. Chồng đi công tác xa. Cô trở thành người mẹ đảm vừa tự nguyện vừa bất đắc dĩ.
Thực sự thì chẳng có phụ nữ nào muốn thành “ba đảm đang” một cách tự giác hoàn toàn nếu không phải có sự bắt buộc của hoàn cảnh. Đã là con người, ai chẳng thích chữ “nhàn”. Được nghỉ ngơi, vui chơi hưởng thụ, họa có vấn đề gì về đầu óc mới không thích. Chẳng qua cũng vì những quan niệm phân biệt về giới và những trách nhiệm đi kèm đã hằn thành nếp trong đầu con người nên phụ nữ vẫn phải gắng chu toàn cho những điều mà đôi khi họ thừa hiểu mình có thích hay không.
Phụ nữ nói chung khi đã bập vào chuyện con cái, thường quên rất mau tình yêu thương dành cho bản thân mình. Việc chăm chút cho cái “tôi” của họ nếu còn sót lại với một số người thì phần lớn đều chỉ dừng ở việc chăm sóc thể chất, cho vẻ ngoài. Nhìn chung, ít người thực sự để tâm tới chuyện đã một thời họ thích đi xem phim, thích đi dạo trên những tán cây mát rượi bên hồ, thích ngắm một cơn mưa rào cuối hạ, thích tận hưởng một buổi tối mát mẻ thoang thoảng hương hoa… Phụ nữ tự quên đi tất cả hoặc cuộc sống gia đình với trách nhiệm làm mẹ buộc họ phải dần quên. Bởi xét cho cùng, càng nhớ thì họ càng day dứt và muộn phiền hơn khi không thể thực hiện được, ngay cả khi sự chăm sóc đó quá đơn giản.
Tôi đã thấy nhiều phụ nữ thời nay chỉ thích xem phim bộ, thích rong ruổi trong siêu thị hay bát phố lùng đồ giảm giá. Có người nói họ không còn thời gian để làm gì cho mình, song kỳ thực, họ lại đang dành quá nhiều thời gian chăm chút cho bản thân nhưng lại tưởng như không hề chăm sóc. Đó là bởi, sự chăm sóc theo cách phù phiếm và hời hợt đó không làm tâm hồn hay thể chất họ phong phú và thú vị hơn. Sự nhạt nhẽo và thoảng qua của những thú vui đơn thuần là mãn nhãn, mãn nhĩ quả thực không làm giàu thêm cho bất cứ ai cả về tâm hồn lẫn thể xác. Vậy nên dù 1 năm hay 10 năm trôi qua, người phụ nữ sống trong những lối hưởng thụ đó sẽ chỉ cảm thấy mình già đi mỗi ngày, lực sống, lực yêu cũng giảm cùng với sự tăng lên của tuổi tác. Bi kịch thấy trước này quả thực đáng sợ. Đáng sợ hơn, số người này ngày càng tăng trong thời hiện đại.
Người ta vẫn nói, niềm vui đến từ bên ngoài thường không bền lâu và luôn đẩy người tận hưởng niềm vui đó vào thế bị động. Điều quan trọng vẫn phải là sự tự biết làm vui mình. Điều đó xem ra với phụ nữ lại càng quan trọng. Biết làm vui mình, tức là bạn cũng biết làm vui người khác. Nếu bản thân bạn không thể yêu bạn thì ai có thể yêu bạn nữa đây?
Nhiều phụ nữ cần đàn ông không hẳn vì tình dục. Tôi đồ rằng, họ cần sự an ủi, chở che nhiều hơn. Và khi họ càng yếu đuối, họ càng cần đàn ông, thậm chí thụ động và lệ thuộc sâu sắc vào đàn ông. Nguyên lý nhân quả có thể khá minh bạch trong việc này nhưng không phải ai cũng dám thừa nhận mình là người yếu ớt và phải lệ thuộc vào đàn ông. Đúng là không nên coi đàn ông nói riêng và thế giới bên ngoài là nguồn vui sống của phụ nữ. Càng không bao giờ nên nghĩ rằng, phải có đàn ông, phụ nữ mới được là phụ nữ. Cuộc sống phong phú và đa dạng tới mức, nó chấp nhận trong mình tất cả những gì con người có thể nghĩ ra. Cuộc sống không từ chối con người, chỉ con người dại dột lại luôn từ chối chính ước mong và khao khát thực sự của mình thôi. Vậy nên, nếu là phụ nữ, bên cạnh tình yêu chồng thương con, hãy biết yêu mình thực sự, phụ nữ ạ!
Dantri
Thực sự thì chẳng có phụ nữ nào muốn thành “ba đảm đang” một cách tự giác hoàn toàn nếu không phải có sự bắt buộc của hoàn cảnh. Đã là con người, ai chẳng thích chữ “nhàn”. Được nghỉ ngơi, vui chơi hưởng thụ, họa có vấn đề gì về đầu óc mới không thích. Chẳng qua cũng vì những quan niệm phân biệt về giới và những trách nhiệm đi kèm đã hằn thành nếp trong đầu con người nên phụ nữ vẫn phải gắng chu toàn cho những điều mà đôi khi họ thừa hiểu mình có thích hay không.
Phụ nữ nói chung khi đã bập vào chuyện con cái, thường quên rất mau tình yêu thương dành cho bản thân mình. Việc chăm chút cho cái “tôi” của họ nếu còn sót lại với một số người thì phần lớn đều chỉ dừng ở việc chăm sóc thể chất, cho vẻ ngoài. Nhìn chung, ít người thực sự để tâm tới chuyện đã một thời họ thích đi xem phim, thích đi dạo trên những tán cây mát rượi bên hồ, thích ngắm một cơn mưa rào cuối hạ, thích tận hưởng một buổi tối mát mẻ thoang thoảng hương hoa… Phụ nữ tự quên đi tất cả hoặc cuộc sống gia đình với trách nhiệm làm mẹ buộc họ phải dần quên. Bởi xét cho cùng, càng nhớ thì họ càng day dứt và muộn phiền hơn khi không thể thực hiện được, ngay cả khi sự chăm sóc đó quá đơn giản.
Tôi đã thấy nhiều phụ nữ thời nay chỉ thích xem phim bộ, thích rong ruổi trong siêu thị hay bát phố lùng đồ giảm giá. Có người nói họ không còn thời gian để làm gì cho mình, song kỳ thực, họ lại đang dành quá nhiều thời gian chăm chút cho bản thân nhưng lại tưởng như không hề chăm sóc. Đó là bởi, sự chăm sóc theo cách phù phiếm và hời hợt đó không làm tâm hồn hay thể chất họ phong phú và thú vị hơn. Sự nhạt nhẽo và thoảng qua của những thú vui đơn thuần là mãn nhãn, mãn nhĩ quả thực không làm giàu thêm cho bất cứ ai cả về tâm hồn lẫn thể xác. Vậy nên dù 1 năm hay 10 năm trôi qua, người phụ nữ sống trong những lối hưởng thụ đó sẽ chỉ cảm thấy mình già đi mỗi ngày, lực sống, lực yêu cũng giảm cùng với sự tăng lên của tuổi tác. Bi kịch thấy trước này quả thực đáng sợ. Đáng sợ hơn, số người này ngày càng tăng trong thời hiện đại.
Người ta vẫn nói, niềm vui đến từ bên ngoài thường không bền lâu và luôn đẩy người tận hưởng niềm vui đó vào thế bị động. Điều quan trọng vẫn phải là sự tự biết làm vui mình. Điều đó xem ra với phụ nữ lại càng quan trọng. Biết làm vui mình, tức là bạn cũng biết làm vui người khác. Nếu bản thân bạn không thể yêu bạn thì ai có thể yêu bạn nữa đây?
Nhiều phụ nữ cần đàn ông không hẳn vì tình dục. Tôi đồ rằng, họ cần sự an ủi, chở che nhiều hơn. Và khi họ càng yếu đuối, họ càng cần đàn ông, thậm chí thụ động và lệ thuộc sâu sắc vào đàn ông. Nguyên lý nhân quả có thể khá minh bạch trong việc này nhưng không phải ai cũng dám thừa nhận mình là người yếu ớt và phải lệ thuộc vào đàn ông. Đúng là không nên coi đàn ông nói riêng và thế giới bên ngoài là nguồn vui sống của phụ nữ. Càng không bao giờ nên nghĩ rằng, phải có đàn ông, phụ nữ mới được là phụ nữ. Cuộc sống phong phú và đa dạng tới mức, nó chấp nhận trong mình tất cả những gì con người có thể nghĩ ra. Cuộc sống không từ chối con người, chỉ con người dại dột lại luôn từ chối chính ước mong và khao khát thực sự của mình thôi. Vậy nên, nếu là phụ nữ, bên cạnh tình yêu chồng thương con, hãy biết yêu mình thực sự, phụ nữ ạ!
Dantri
![]() |
| Số liệu thống kê của 30 người giàu nhất Việt Nam trên sàn chứng khoán có trên 26% từ đất đai. |
Chính nhờ thuận lợi này nên tôi có điều kiện hiểu sâu hơn về họ. Ngoài chân dung những người làm ăn phát đạt, tôi đã dành nhiều thời gian để tìm hiểu về cách thức làm ăn, tìm hiểu xem họ làm giàu từ đâu? Tôi cũng tìm hiểu thêm về các tỷ phú, những người siêu giàu trên thế giới để từ đó so sánh ở Việt Nam ta làm ăn có khác với họ không?
Giàu nhanh, sa sút cũng nhanh
Nhiều dự báo của tôi cũng như các chuyên gia qua các bài viết về người giàu Việt Nam, nhất là về bất động sản xem ra là đúng với hiện nay!
Tuy nhiên, ở xứ ta, câu trả lời thật chính xác về nguyên nhân làm giàu của họ, họ làm giàu từ đâu là rất khó.
Bởi nhiều người giàu không lên sàn, cả những người đã lên sàn chứng khoán cũng luôn có sự biến đổi, luôn có sự chuyển đổi từ lĩnh vực này qua lĩnh vực khác, khó xác minh. Đó là chưa kể sự thiếu minh bạch vốn đang tồn tại dai dẳng ở nước ta mà công luận đang lên tiếng.
Ngay cả các thứ đã công khai, các số liệu, các loại thông tin, cả thông tin chính thống nhiều khi cũng chỉ đúng một phần.
Số liệu thống kê của 30 người giàu nhất Việt Nam trên sàn chứng khoán có trên 26% từ đất đai.
Như vậy, gần 1/3 người giàu ở Việt Nam hoàn toàn từ bất động sản. Đó là chưa tính những người có một phần, hay một nửa từ đất đai. Nếu tính chuẩn, tính hết, có thể nói hai phần ba người giàu ở nước ta là từ đất, từ “ông thần thổ địa” một thời bị lãng quên.
Sở dĩ năm qua có nhiều đại gia giảm tài sản (trên sàn) đến mấy chục phần trăm cũng là do thị trường bất động sản đóng băng, hạ giá rất nhiều vẫn ít người mua. Đây là lĩnh vực giàu lên rất nhanh, cũng là lĩnh vực sa sút nhanh, thậm chí có nhiều người bị phá sản, rơi vào cảnh nợ nần...
Như tôi đã nhiều lần nói đến, suốt một thời gian dài, do chiến tranh, do cơ chế quan liêu bao cấp, do triết lý “kinh tế tiểu nông hàng ngày hàng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản...”, mà một thời ta coi tư bản như kẻ thù, nên ăn cơm tập thể, ở nhà lắp ghép tập thể do nhà nước phân phối, đất đai là của hợp tác, dần dần trong tư duy của người dân, đất đai chẳng để làm gì...
Cho đến khi công cuộc đổi mới bắt đầu, công nhận tư hữu, chủ trương kinh tế nhiều thành phần (chứ không phải chỉ có một thành phần là tập thể, là công hữu về tư liệu sản xuất).
Làm giàu một cách bền vững
Đó là thời điểm vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi mà hàng triệu người còn ngơ ngác trước một cơ chế mới mà ta gọi là “cơ chế thị trường”, hầu như tất cả đang ở trên những căn hộ tập thể nhiều tầng với các dãy “chuồng cọp”, chưa kịp nhìn xuống đất, chưa kịp nhớ tới việc ngàn đời nay ông cha ta thường nói về một “mảnh đất cắm dùi” mà nhiều năm qua không ai dám nói đến...
Chính vào thời điểm đó một số người có đầu óc nhạy bén, có một ít tiền tích luỹ được (nhiều người tích lũy từ nước ngoài) liền nghĩ tới đất đai. Mua đất, mua nhà, lấp ao, san vườn... với giá rất rẻ, còn rẻ như cho.
Tiếp đến là biến những khu đất “vàng” ở trung tâm thành phố mà trước đó là khuôn viên nhà máy, xí nghiệp, hay các chung cư cũ nát... thành khách sạn siêu thị, thành các tòa nhà hiện đại để cho các công ty nước ngoài, hay tập đoàn trong nước thuê, hoặc bán đứt cho các ngân hàng, các cơ sở kinh doanh...
Phải nói rằng nhiều người giàu ở ta làm ăn chính đáng, kể cả họ làm giàu từ đất đai, từ bất động sản. Nhưng, cũng có không ít người như báo chí đã đưa tin, họ thiếu trung thực, họ lươn lẹo, ma mãnh thậm chí lừa đảo trong làm ăn, dùng nhiều thủ đoạn bất chính mà công luận đã lên tiếng phản ứng.
Khi có chủ trương cho phân lô, bán nền, các nhà đầu tư bất động sản liền ồ ạt xây nhà ở, xây chung cư cao cấp, vì chỉ cần đầu tư ban đầu, chỉ cần san, lấp được cái nền và có bản vẽ “Khu nhà tương lai” là người ta đổ xô nhau mua.
Mua không phải để ở mà để đầu cơ vì ai cũng nghĩ rằng “người thì ngày càng đẻ thêm nhưng đất đai vẫn vậy...”. Dẫn đến tình trạng giá đất, giá nhà đội lên cao vùn vụt...
Bởi vậy, khi thị trường bất động sản đóng băng, nhiều biệt thự nói như một số bài báo là “biệt thự triệu đô cho... chuột ở”.
Làm ăn từ các dự án “nuốt dân” khó bền vững
Ngoài nhiều dự án của nhiều chủ đầu tư làm ăn chính đáng, cũng không ít dự án tiêu cực. Do “cơ chế” về đất đai ở nước ta còn rất nhiều kẽ hở, nên đã xuất hiện nhiều dự án mà báo chí gọi là “dự án nuốt đất của dân”, tức là biến đất đai - tài sản công thành tài sản tư một cách “hợp pháp”.
Đó là những người biết chớp “thời cơ” khi đất đai còn rẻ, còn sẵn, còn xin cho... để kiếm lời. Nhưng, cái gì cũng vậy, đã có thời cơ thì ắt có lúc mất thời cơ. Thời cơ không vĩnh viễn tồn tại.
Và thực tế đã xảy ra trong năm qua khi bất động sản giảm giá thê thảm, hay nói đúng hơn là đã trở về với giá thực như các chuyên gia về lĩnh vực này phát biểu trên báo chí.
Xem kỹ thống kê 100 gia đình giàu nhất Việt Nam thì thấy: họ giàu lên từ bất động sản là chủ yếu.
Thứ hai là từ tài chính, ngân hàng.
Thứ ba là khai thác, chế biến khoáng sản, hải sản...
Thứ tư là dịch vụ.
Cuối cùng mới là thông tin, truyền thông.
Ta thử nhìn rộng ra thế giới ngày nay xem những người giàu, siêu giàu từ đâu?
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tổ chức ở Davos (Thụy Sỹ) tháng 1/2012, khi người ta thống kê những người siêu giàu và xem họ làm giàu từ đâu thì thấy công nghệ và viễn thông là đầu tiên.
Đó là ngành làm giàu lớn nhất của những người siêu giàu trên thế giới.
Thứ hai là khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Thứ ba là buôn bán (bán lẻ).
Thứ tư là ngành tài chính, đầu tư.
Ít có những người siêu giàu từ bất động sản.
Điều này khiến ta suy nghĩ hay không? Những người giàu trên thế giới ngày nay luôn gắn với những sản phẩm nổi tiếng (máy bay, tầu thủy, các loại xe ôtô, các loại máy tính, điện thoại di động...) gắn với khoa học, với công nghệ tiên tiến.
Họ làm giàu chủ yếu từ chất xám. Đúng ra là biết phát huy chất xám của những người tài. Ta hãy lấy ví dụ người giàu nhất nước Mỹ, tỷ phú Bill Gates. Sản phẩm của ông là hãng máy tính nổi tiếng Microsoft.
Còn người giàu nhất Hàn Quốc là ông chủ của hãng Samsung, ông Lee Kun Hee. Tên tuổi của Samsung gắn với các loại tivi, máy tính, máy điều hòa nhiệt độ, điện thoại di động nổi tiếng.
Từ đó nói lên điều gì? Nói lên điều mà báo chí vẫn nói: họ làm giàu bền vững.
Muốn có sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước nhà, phải chăng chúng ta cần một đội ngũ doanh nhân, một tầng lớp người giàu phát triển đúng quy luật, phát triển bền vững, không chỉ dựa vào đất đai, hay tài nguyên thiên nhiên mà phải huy động được nội lực, được chất xám của con người - chất xám của con người Việt Nam vốn thông minh, cần cù, chịu khó... để làm nên những sản phẩm trí tuệ, những sản phẩm từ chất xám của thế giới ngày nay.
Dương Kỳ Nam (nguyên Tổng biên tập báo Tiền Phong)
Theo VN Economy
Hãng tin Bloomberg công bố danh sách những xu hướng tiêu dùng ngày càng trở nên phổ biến hoặc đang biến mất dần. Theo đánh giá này, chi tiêu cho các đồ chơi công nghệ đã "cất cánh" trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21. Cụ thể, chi phí cho điện thoại tăng 17% mỗi năm trong giai đoạn từ 2000 đến 2011.
Ở chiều ngược lại, xăng, dầu đang bị cắt giảm chi tiêu mạnh nhất. Sau đây là 10 xu hướng tiêu dùng đang ngày càng trở nên phổ biến:
10. Nội thất và trang trí nội thất
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 111,8 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 162,9 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,48%
9. Đồ thủy tinh, bộ đồ ăn và đồ để đựng
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 31,6 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 46,8 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,63%
8. Viễn thông
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 153,0 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 233,0 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,90%
7. Trang, thiết bị chăm sóc sức khỏe
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 34,0 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 52,1 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,96%
6. Dược phẩm
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 189,3 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 292,3 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 4,03%
5. Súng ống và đạn dược
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 36,1 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 58,6 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 4,50%
4. Giải trí
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 85,5 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 153,2 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 5,45%
3. Túi ví
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 11,6 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 28,4 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 8,48%
2. Thiết bị âm thanh, hình ảnh
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 76,6 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 411,8 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 16,52%
1. Thiết bị điện thoại
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 3,3 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 19,4 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 17,47%
Theo VN Economy
Ở chiều ngược lại, xăng, dầu đang bị cắt giảm chi tiêu mạnh nhất. Sau đây là 10 xu hướng tiêu dùng đang ngày càng trở nên phổ biến:
10. Nội thất và trang trí nội thất
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 111,8 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 162,9 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,48%
9. Đồ thủy tinh, bộ đồ ăn và đồ để đựng
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 31,6 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 46,8 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,63%
8. Viễn thông
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 153,0 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 233,0 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,90%
7. Trang, thiết bị chăm sóc sức khỏe
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 34,0 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 52,1 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 3,96%
6. Dược phẩm
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 189,3 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 292,3 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 4,03%
5. Súng ống và đạn dược
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 36,1 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 58,6 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 4,50%
4. Giải trí
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 85,5 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 153,2 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 5,45%
3. Túi ví
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 11,6 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 28,4 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 8,48%
2. Thiết bị âm thanh, hình ảnh
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 76,6 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 411,8 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 16,52%
1. Thiết bị điện thoại
Tổng chi tiêu cho năm 2000: 3,3 tỷ USD
Tổng chi tiêu cho năm 2011: 19,4 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm: 17,47%
Theo VN Economy



